Quỹ bảo lãnh TPHCM

Chủ nhật , 22/7/2018 04:23:23 GMT +7

TP.HCM: 40 năm và những mốc son

Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Sài Gòn và toàn miền Nam được giải phóng, cuộc kháng chiến 30 năm để giành lại độc lập của dân tộc Việt Nam đã kết thúc, đất nước thống nhất. Từ đó, Sài Gòn - Gia Định vinh dự được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Năm 2015, kỷ niệm 40 năm chiến thắng vẻ vang ấy, chúng ta cùng điểm lại những mốc son lịch sử của thành phố mang tên Bác.

1/ Tám tháng chuyển giao nhiệm vụ lịch sử

Ngày 3/5/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra quyết định thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, thực thi nhiệm vụ của cơ quan quyền lực cao nhất đầu tiên của nhân dân thành phố sau 30/4/1975.

Hoạt động của Ủy ban Quân quản trong 8 tháng (3/5/1975 – 24/1/1976) cùng sự lãnh đạo của Thành ủy đã tập trung giải quyết có hiệu quả khối công việc bộn bề ở thời điểm chuyển giao lịch sử tại một địa bàn trọng điểm, từ chiến tranh sang hòa bình; từ thủ phủ, đầu não của bộ máy chiến tranh xâm lược sang một thành phố lớn của đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất.

Ủy ban Quân quản đã thực hiện chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc, trao quyền công dân của nước Việt Nam thống nhất cho gần 96% tổng số sĩ quan binh lính và nhân viên chế độ cũ.

Thực hiện chiến dịch “giữ gìn trật tự, trị an xã hội”, Ủy ban Quân quản đã tập trung ổn định đời sống quần chúng, cứu tế đồng bào thiếu đói, đưa dần một bộ phận quần chúng bị địch di tản vào thành phố hồi cư, từng bước giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn người thất nghiệp. Đồng thời truy lùng tàn binh, trấn áp bọn phản cách mạng, truy quét tội phạm hình sự thoát ra từ nhà tù cùng du đãng, các đối tượng tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, bụi đời…, thiết lập trật tự trị an của TP.HCM từ những ngày đầu được giải phóng.

Đặc biệt, Ủy ban Quân quản đã đặt những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng chính quyền các cấp của thành phố. Trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị hành chính trên các cấp của Thành ủy, Ủy ban Quân quản đã kết hợp điều động nhân sự, xây dựng chính quyền cách mạng cấp cơ sở ở phường, khóm, ấp.

Dù chỉ tồn tại trong 8 tháng, Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định đã có nhiều nỗ lực vượt qua những khó khăn, thử thách và cả hiểm nghèo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình.

Đó là thời kỳ đặc biệt, mở đầu sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố 40 năm qua.

2/ Vượt lên chính mình, tìm con đường phát triển phù hợp, góp phần tạo tiền đề đổi mới

Sau vài năm đầu, khi dự trữ nguyên liệu cạn kiệt, tình hình kinh tế ngày càng sa sút nghiêm trọng. Sản xuất, dịch vụ xuống dốc; giá cả thị trường tăng liên tục. Lại thêm chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; thiên tai xảy ra ba năm liền ở Nam bộ ảnh hưởng đến vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Chiến tranh, đói kém, tệ nạn xã hội, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch… cùng những sai lầm duy ý chí trong cải tạo và xây dựng kinh tế, trong quản lý điều hành xã hội, tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, “bán như cho, mua như cướp”… gây nên tâm lý bất an cho mọi tầng lớp xã hội.

Lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Sài Gòn phải ăn độn bo bo, khoai, sắn, có khi lên tới 90%. Người dân truyền nhau phương ngôn “ban ngày cả nước lo việc nhà, ban đêm lo việc nước” (“việc nhà” là bó rau, lon gạo, chai nước mắm…; “việc nước” là lo đi hứng nước để nấu ăn, tắm giặt…).

Hình ảnh từng đoàn người rồng rắn xếp hàng cả ngày trước các cửa hàng lương thực quốc doanh, cảnh từng nhà rải gạo lên mâm để lượm thóc, trấu, bông cỏ… trở thành nỗi trăn trở ray rứt, suy ngẫm thường trực của những người lãnh đạo vốn xuất thân từ dân, sống gắn bó với dân trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, thề hẹn suốt đời lo cho dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Hồ Chí Minh – Toàn tập – Tập 4, NXB Chính trị quốc gia – 2011, tr.145).

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, TP.HCM đã tích cực tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất, phát triển kinh doanh, chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân. Bám sát thực tiễn, hiểu dân, trọng dân, lo cho dân là động lực và mục tiêu của sự sáng tạo, là phương châm, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy TP.HCM.

Với chủ trương “phải biết phân tích những đặc điểm lịch sử của thành phố và con người thành phố để chọn lựa hướng đột kích chủ yếu”, trong điều kiện cuộc đấu tranh giữa bảo thù và trì trệ với đổi mới cách nghĩ, các làm diễn ra gay gắt, bất phân thắng bại, thậm chí còn bị ngộ nhận, chụp mũ, vốn tin dân, trọng dân, luôn dựa vào dân như Bác Hồ đã dạy, Thành ủy TP.HCM đã kiên trì chủ trương tăng cường xuống cơ sở, gặp gỡ cán bộ và nhân dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, thắc mắc của dân, rồi cùng cán bộ cơ sở bàn bạc, tháo gỡ bằng những giải pháp, bước đi mang tính đột phá, mạnh dạn “phá rào”, thực hiện “cởi trói” về cơ chế để giúp sản xuất “bung ra”, cải tiến lĩnh vực liên thông phân phối mở rộng thị trường, trước hết là thị trường Nam bộ và thị trường quốc tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.

Những việc làm như xóa bao cấp, thực hiện 3 lợi ích, lương sản phẩm trong xí nghiệp, khoán sản phẩm trong nông nghiệp, trong đánh bắt cá ngoài biển, vấn đề cải tạo công thương nghiệp, hợp doanh, nhập khẩu nguyên liệu, khôi phục các ngành thủ công nghiệp v.v…, với các địa chỉ như Công ty Lương thực thành phố, gạch bông Đức Tân, câu lạc bộ Giám đốc, dệt Thành Công, Phước Long, Phong Phú, Việt Thắng, cao su Phạm Hiệp, Công ty bột giặt miền Nam (VISO), nhà máy bia Sài Gòn, xí nghiệp cơ khí Caric, Sinco v.v… là những điển hình, những sự kiện của một thời đoạn lịch sử thành phố đầy cam go và đầy năng động, sáng tạo.

Đặc biệt, một sự kiện khắc ghi như là một mốc son lịch sử của quá trình đổi mới tư duy trong việc hoạch định chính sách phát triển của thành phố trong 10 năm đầu sau giải phóng là sự kiện “Hội nghị Đà Lạt” vào trung tuần tháng 7/1983.

Với quan điểm “thực tiễn là ông thầy nghiệm chính xác, người phán xét cuối cùng” và tất cả vì lợi ích của người lao động, vì cuộc sống của người dân, từ khảo sát thực tiễn, tổng kết những thí điểm về đổi mới để có cách làm ăn hiệu quả, bảo đảm đời sống công dân, phát triển sản xuất kinh doanh, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đã tổ chức cho giám đốc các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố có cách làm ăn mới theo cơ chế của thành phố, trực tiếp báo cáo với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ương đang nghỉ mát ở Đà Lạt (các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…), rồi mời các đồng chí về thành phố tham quan, khảo sát thực tế…

Sự kiện đó không chỉ “minh oan” cho cách làm “phá rào”, “làm lén” của thành phố để có thể vượt ra khỏi cơ chế cũ, vượt ra khỏi vòng xoáy khủng hoảng nghiêm trọng của đất nước trước 1985, mà còn tác động tích cực, có hiệu quả đến sự hình thành đường lối đổi mới.

“Hội nghị Đà Lạt” tháng 7/1983 là một dấu ấn đáng ghi nhớ trong quá trình lãnh đạo đầy bản lĩnh, năng động, sáng tạo của Thành ủy và nhân dân TP.HCM.

Nhờ kiên trì bám sát thực tiễn, năng động, dám làm, dám chịu trách nhiệm và được Trung ương hỗ trợ, sự kiên quyết tháo gỡ khó khăn đã tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố đạt kết quả rõ rệt.

Tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm thời kỳ 1980 – 1985 đạt 8,17% so với 2,18% thời kỳ 1976 – 1980; thu ngân sách địa phương năm 1985 gấp 43 lần năm 1980.

3/ Cùng cả nước thực hiện đổi mới, hội nhập

Với tinh thần của Đại hội lần thứ VI của Đảng “tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, TP.HCM cùng cả nước đã dứt khoát với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để tiến hành đổi mới, đưa thành phố “cùng cả nước, vì cả nước” bước vào thời kỳ lịch sử mới.

Thành phố luôn giữ vai trò đầu tàu trong tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo nguồn ngân sách và giải quyết các vấn đề xã hội.

Kinh tế thành phố tăng trưởng liên tục, kể cả trong những thời kỳ khó khăn. Từ 1991 đến 1995, kinh tế thành phố tăng mạnh, từ 9,8% năm 1991 lên 15,3% năm 1995.

Thời kỳ 1996 – 2000, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, tốc độ tăng trưởng GDP có giảm sút nhưng TP.HCM vẫn là một địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước (9,0%).

Bước vào thế kỷ 21, tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố tăng liên tục trong 6 năm liền, từ 9,5% năm 2001 lên 11,6% năm 2004, 12,2% năm 2006 và 12,6% năm 2007.

Từ năm 2008, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội xuống thấp trầm trọng. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Trung ương, thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thực hiện rốt ráo các quyết sách của Trung ương Đảng, các nhóm giải pháp của Chính phủ, huy động mọi nguồn lực, động viên mọi nỗ lực của các cấp, các ngành, phấn đấu vượt qua cơn khủng hoảng, đạt mức tăng trưởng hợp lý, đóng góp cho cả nước hơn 1,7% trong tổng số 5,32% mà cả nước đạt được trong năm có mức tăng trưởng thấp nhất (2009).

Bình quân trong 5 năm (2006 – 2010), GDP cả nước tăng 7%, TP.HCM tăng 11%.

TP.HCM là trung tâm thương mại – dịch vụ lớn, là nơi xuất khẩu chiếm tỷ lệ khá cao của cả nước: hơn 25% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; hơn 36% kim ngạch xuất khẩu. Đây là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của thành phố (hiện nay là 59,6%), có tốc độ tăng trưởng cao, nhất là tài chính – ngân hàng, du lịch, vận tải – dịch vụ cảng – kho bãi; bưu chính – viễn thông.

Lĩnh vực công nghiệp – xây dựng chiếm 39,4% GDP, đang phát triển những ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Là trung tâm công nghiệp của khu vực phía Nam và cả nước, từ ngày đổi mới, TP.HCM đã xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp khá hiện đại, đa dạng ngành nghề. Đặc biệt, TP.HCM là nơi xây dựng khu chế xuất đầu tiên của nước ta, cùng với trên 10 khu công nghiệp đang đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là nơi đi đầu trong công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao.

TP.HCM là địa phương thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước nhiều nhất cả nước. Vốn đầu tư phát triển của thành phố từ chỗ chiếm 5,03% tổng vốn đầu tư phát triển cả nước vào năm 1976, đến nay đã chiếm khoảng 21%.

Dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, nhất là quá tải về cơ sở hạ tầng, đất đai chật hẹp, lại là nơi “đầu sóng ngọn gió” của cơn bão khủng hoảng tài chính tiền tệ, suy thoái kinh tế toàn cầu, song đến nay TP.HCM vẫn là địa phương dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI).

Từ khi có Luật đầu tư nước ngoài đến nay, số dự án đầu tư nước ngoài vào thành phố còn hiệu lực là 5.280 dự án, với tổng giá trị vốn đầu tư đăng ký đạt 36,26 tỷ USD, chiếm 15,15% tổng vốn đầu tư còn hiệu lực trong cả nước (theo Thành phố Hồ Chí Minh – Phát triển và nội nhập – NXB Tổng hợp TP.HCM 2014).

Cùng với đà tăng trưởng kinh tế nhanh, mức sống vật chất của dân cư ngày càng được cải thiện và nâng cao. GDP đầu người/năm năm 1985 đạt 586 USD, nay đã nâng lên 5.131 USD/người/năm.

Diện mạo thành phố ngày càng khang trang, hiện đại. Trong 40 năm qua, nhất là sau Đổi mới, thành phố tập trung các nguồn lực thực hiện quy hoạch đô thị, tăng cường quản lý đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị ngày càng văn minh, hiện đại. Không gian đô thị được điều chỉnh, gắn với Vùng đô thị TP.HCM, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Giáo dục – đào tạo không ngừng phát triển. TP.HCM là địa phương đi đầu cả nước về phổ cập giáo dục, đến nay đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông, nâng cao mặt bằng dân trí, giảm khoảng cách giữa giáo dục nội thành và ngoại thành.

“Xã hội hóa” giáo dục các cấp học và các loại hình đào tạo được đẩy mạnh; phát triển mô hình liên kết, hợp tác đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có chất lượng cao; phát triển “khuyến học”, “khuyến tài” góp phần tích cực vào việc xây dựng xã hội học tập. Các cơ sở giáo dục – đào tạo bậc đại học và sau đại học trên địa bàn TP.HCM phát triển nhanh, củng cố vững chắc vị trí trung tâm đào tạo lớn của khu vực phía Nam và cả nước.

Khoa học – công nghệ tập trung cho mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế xã hội của thành phố, đi sâu ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng… tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và sức cạnh tranh cao.

Đời sống văn hóa xã hội thành phố ngày càng phong phú, đa dạng. Những giá trị tinh thần mang đặc trưng của nhân dân thành phố như tinh thần nhân ái, làm việc nghĩa, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo… không ngừng được phát huy. TP.HCM là nơi khởi xướng và thực hiện đầu tiên trong cả nước các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa - nhà tình thương, chương trình xóa đói giảm nghèo, bảo trợ bệnh nhân nghèo, nụ cười cho trẻ thơ, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng… mang lại hiệu quả thiết thực.

Vấn đề chăm lo sức khỏe của người dân ngày càng tốt hơn. Mạng lưới y tế cơ sở chăm sóc sức khỏe cộng đồng không ngừng được củng cố, cơ sở vật chất ngành y tế được nâng cấp, mở rộng (đạt 40 giường bệnh/vạn dân), hệ thống bệnh viện tư nhân, bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, một số cơ sở y tế kỹ thuật, chất lượng cao… góp phần đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho mọi đối tượng.

Chủ trương xã hội hóa y tế của Chính phủ, chủ trương kích cầu của UBND TP đã tạo đòn bẩy, động lực cho sự phát triển của các bệnh viện, tạo nền tảng cho sự phát triển ngành, giúp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, hạn chế phần nào tình trạng “chảy máu nội tệ” hàng năm từ 500 triệu đến 1 tỷ USD do có hàng chục ngàn người sang Singapore chữa bệnh.

40 năm TP.HCM cùng cả nước xây dựng và phát triển, đổi mới và hội nhập đã trải qua bao thăng trầm với nhiều khó khăn thử thách, có những va vấp khuyết điểm, song nhìn tổng thể, TP.HCM đã có sự phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước.

Thành phố đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý: Thành phố anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, được hai lần tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.

Trích tham luận “Thành phố Hồ Chí Minh – 40 năm phát triển, hội nhập: Những mốc son và những sự kiện lịch sử”

Nguồn  doanhnhansaigon.vn